Bệnh trĩ: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Bệnh trĩ: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinhThomson (1975) đã đưa ra thuyết gọi là “thuyết dựa trên sự trượt của lòng ống hậu môn”. Theo quan điểm này thì những chỗ dày lên trong lớp dưới niêm mạc chứa hầu hết các mạch máu là thành tố quan trọng, cùng với hệ cơ trơn nhẵn và mô liên kết đàn hồi của những gờ hậu môn này làm thay đổi thể tích.

1. Thuyết cơ học

Thomson (1975) đã đưa ra thuyết gọi là “thuyết dựa trên sự trượt của lòng ống hậu môn”. Theo quan điểm này thì những chỗ dày lên trong lớp dưới niêm mạc chứa hầu hết các mạch máu là thành tố quan trọng, cùng với hệ cơ trơn nhẵn và mô liên kết đàn hồi của những gờ hậu môn này làm thay đổi thể tích.

Các gờ đó nằm ở vị trí phải trước, phải sau và trái ngang (vị trí thường gặp của các búi trĩ) tạo sự bịt kín hậu môn. Các đám rối tĩnh mạch của lớp dưới niêm mạc (các gờ) được cố định bởi những sợi cơ xuất phát từ phức hợp dọc và một phần từ cơ thắt trong gọi là dây chằng Parks. Chính Treitz (1853) là người đầu tiên mô tả loại cơ này mà Thomson đề nghị gọi là cơ Treitz.

Trĩ chính là sự sa một phần của lớp đệm hậu môn ra ngoài do các ảnh hưởng gây tăng áp lực ống hậu môn. Khi đại tiện, do rặn nhiều các đệm căng vì đầy máu dễ dàng bị đẩy ra ngoài, tái diễn nhiều lần làm cho dây chằng Parks căng, dần dần giãn và đứt. Một số tác giả cho rằng khi có hiện tượng thoái hóa keo thì các dây chằng chùng nhão dần, hiện tượng thái hóa bắt đầu ở độ tuổi 20 nên bệnh không thấy ở trẻ em.

Trên cơ sở của học thuyết này, dễ dàng giải thích hình thái giải phẫu lâm sàng khác nhau của trĩ. Các hiện tượng tuần hoàn là 15 thứ phát, do các cuống mạch bị xoắn vặn và do co thắt của cơ nâng hậu môn. Các hiện tượng này có thể là cấp tính hay mãn tính và đây là cơ sở tạo ra mức độ to nhỏ khác nhau của búi trĩ.

 Bệnh trĩ: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 

2. Thuyết huyết động học

Thuyết huyết động học cho rằng trong lớp dưới niêm mạc ở phần thấp của bóng trực tràng và ở ống hậu môn có rất nhiều khoang mạch, vách các khoang này chỗ dày chổ mỏng tạo thành các khoang. Một số yếu tố như:

– Tiêu chảy: Trĩ hay kèm những đợt tiêu chảy có thể do bệnh nhân rặn nhiều. Điều đó cũng giải thích được trĩ hay kèm với viêm loét đại tràng hoặc lỵ cấp hay mạn tính.

– Tăng áp lực ổ bụng: Bệnh nhân ho nhiều do viêm phế quản mãn tính, giãn phế quản, bệnh nhân suy tim, xơ gan… và những người thường xuyên làm lao động nặng nhọc.

– Một số nguyên nhân như thai nhiều tháng, ung thư trực tràng, ung thư tử cung, u xơ tử cung, các khối u vùng tiểu khung, đáy chậu… trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng.

3. Thuyết giãn tĩnh mạch

Thuyết giãn tĩnh mạch lưu ý đến hai lý do: Do tăng áp lực tĩnh mạch tại chỗ và sự yếu kém của thành mạch. Morgagni (1749) cho rằng áp lực thủy tĩnh của cột máu từ tĩnh mạch đưa đến hậu môn qua tĩnh mạch mạc treo tràng trên, mạch treo tràng dưới… vì tư thế đứng thẳng của con người. Boerhave F. cho rằng tất cả các nguyên nhân do gây tăng áp lục ổ bụng làm tăng áp lực của tĩnh mạch vùng ống hậu môn. Theo Verneuil M.(1855) sự giãn tĩnh mạch do tắc nghẽn máu về từ các tĩnh mạch ở những vị trí mạch máu xuyên qua thành trực tràng (gọi đó là các lỗ khuyết).

Quan niệm về nhiễm khuẩn của Quenu và Libesskin S. cho rằng sự nhiễm khuẩn do sang chấn nhiều lần của thành tĩnh mạch do cục phân rắn, gây nên các điểm yếu từ đó giãn tĩnh mạch tạo trĩ. Giả thuyết này không thuyết phục bởi lẽ sự giãn tĩnh mạch là hiện tượng bình thường. Điểm này được Soullard J.(1984), Parnaud E.(1985), Sappey (1874), Duret(1877) tán thành. Ngoài ra ở những bệnh nhân xơ gan kèm theo tăng áp lực tĩnh mạch cửa không có biểu hiện trĩ nhiều hơn so với bình thường. Jackson M. và Robertson A. (1965) khi khám nghiệm các mẫu bệnh phẫm trĩ trong vòng 2 năm không tìm thấy biểu hiện nhiễm khuẫn.

4. Thuyết quá sản mạch máu

Phổ biến ở thế kỷ XIX cho rằng trĩ là một loại u mô máu, kết quả của sự dị sản và cho thấy sự giống nhau giữa trĩ và thể hang cương. Những chỗ nối động tĩnh mạch trong vùng này về phương diện mô học được Staubesand, Stelzner và Machleidt (1963) mô tả và về phương diện sinh lý học được Thulesius và Gjores (1973) mô tả. Màu đỏ tươi của máu từ hệ thống tĩnh mạch được giải thích trên cơ sở tồn tại lưu thông động tĩnh mạch. Tuy nhiên theo nghiên cứu về phương diện mô học của Thomson thì chảy máu trĩ xuất phát từ mao mạch giãn nở trong các lá mỏng của ống hậu môn chứ không phải từ các tĩnh mạch, mặc dù chúng có thể biến từ máu tĩnh mạch thành máu động mạch bởi sự lưu thông động – tĩnh mạch. Ông nhận thấy chảy máu xuất hiện muộn hơn và là triệu chứng thứ 2 sau sa búi trĩ, tác giả khẳng định rằng không có cơ sở để chứng minh cho học thuyết tăng sinh mạch máu là đúng.

Những quan niệm sinh bệnh học ngày nay được nhiều tác giả công nhận đó là thuyết huyết động học và thuyết cơ học.

Nếu bạn có câu hỏi hãy nhấp chuột chọn Bác sĩ chuyên khoa tư vấn để được các chuyên gia tư vấn cụ thể hơn hoặc có thể gọi theo số 098 934 2415 để được giải đáp và đặt lịch hẹn khám miễn phí. Tốt nhất bạn nên đến Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám để các bác sĩ khám và tư vấn trực tiếp

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
Những thông tin trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Điều Trị Đau Clinic
Biên tập: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) | Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 | Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
30 bài viết